Cơ chế bệnh động kinh

Cơ chế bệnh động kinh là điều bạn cần quan tâm và tìm hiểu. Dạy sớm hơn để có nhiều thời gian hơn đó là suy nghĩ của tôi. Cơn động kinh xảy do sự phóng điện kịch phát khiến nơtron não được tăng đồng bộ.

Cơ chế bệnh động kinh

Cơ chế bệnh động kinh

Cơ chế bệnh động kinh

Cơ chế bệnh động kinh ảnh hưởng lớn với sự tăng kích thích các vùng nơron ở não xảy ra do kết hợp hai yếu tố:
– Ngưỡng co giật thấp (do yếu tố di truyền).
– Những yếu tố bất bình thường khiến gây ra động kinh. Điển hình như rối loạn chuyển hóa, tổn thương ở não, nhiễm độc,…).
Để nghiên cứu kỹ hơn và cơ chế bệnh động kinh. Người ta đã thử nghiệm trên người và nghiên cứu tác động của penicilin (PNC). Người ta áp PNC vào trong một khu vực não, sau một thời gian ngắn xuất hiện cơn động kinh toàn thể do có sự phóng điện kịch phát ở vỏ não, sự phóng điện này được giải thích bằng sự “mắc nối điện” do phản ứng qua các nhánh bên quặt ngược của các nơron qua sự tác dụng vào hệ Na – K – ATPaza của màng tế bào, tạo điều kiện cho sự giải phóng các chất hóa học ở vùng xinap, và kìm hãm quá trình ức chế ở vỏ não.

Những nghiên cứu gần đây đã nêu lên hai cơ chế chính gây phóng điện kịch phát như sau:
+ Do sự tăng khử cực của màng các tế bào thần kinh:
Khi các yếu tố bệnh lý khiến các nơron thần kinh dẫn đến tăng nguyên tố K ra ngoài tế bào, gây khử cực các tế bào và các nơron phóng điện.

Nghiên cứu về điện sinh lý còn chứng minh rằng ở các khu vực các “nơron động kinh” có sự tăng mạnh hoạt động giữa các mạng lưới đuôi gai của tế bào thần kinh khiến các xung điện ngược chiều đi từ đuôi gai sang sợi trục về thân các nơron bên cạnh.

Khi bắt đầu nghiên cứu điện – sinh lý thần kinh thực nghiệm đã có quan niệm là một tế bào gồm hai đoạn chức năng hoàn toàn khác nhau – một là tiếp nhận hay còn gọi là “đuôi gai” và một là hiệu dụng hay còn gọi là thân và sợi trục. Chỉ có thân và sợi trục có bộc lộ biểu hiện là có vai trò trong sản sinh và dẫn truyền sự phóng điện tế bào. Nhưng quan niệm này đã bị xoay chuyển và được thay đổi.

Năm 1961 thì các bên nghiên cứu khoa học đã tiến hành đo được điện thế nơron ở hồi hải mã có những biểu hiện “ sóng điện đuôi gai”. Nó đã xác định rằng trong tiểu não có những điện thế hoạt động đuôi gai dưới điều kiện sinh lý, nó xuất hiện ở những chỗ chia nhánh của đuôi gai của các tế bào Purkinje và được dẫn truyền theo kiểu xuôi và ngược chiều. Các điện thế hoạt động đuôi gai đặc biệt hay thấy trong các cơn, ở đó dẫn tới khử cực hàng loạt một số lớn tế bào, đã làm cơ sở cho nhận xét về vai trò các đuôi gai trong sự sinh cơn động kinh.

Còn có các đặc tính khác để phân biệt các tế bào gây động kinh với tế bào thường như nhiều tác giả thấy rằng điện thế xuất hiện ở sợi trục và đường dẫn truyền vào thân tế bào theo kiểu ngược chiều. Nguồn gốc của sự phóng điện tế bào “lạc vị” đó còn chưa rõ ràng. Một số vấn đế còn đang được tranh cãi, như ảnh hưởng của nồng độ K+ ở ngoài tế bào được tăng cao ở các sợi trục.

Người ta công nhận rằng những sóng điện bổ sung lạc vị có vai trò quan trọng trong việc duy trì cơn, những sóng nhọ ngược chiều đó có khả năng gây điện thế vỏ não trực tiếp như tác động của penicilin vào đường dẫn truyền tháp.
+ Do giảm hoạt động của chất GABA: những nghiên cứ gần đây đã xác định cơ chế: ức chế giải phóng chất GABA (gamma-amino-butyric-acide) là cơ chế bệnh sinh chủ yếu gây nên cơn động kinh. GABA có tác dụng lên tế bào bía (cơ quan nhận GABA – A) ở vỏ não, tăng ngưỡng chịu kích thích của các nơron vỏ não, đồng thời kiểm soát tính thấm của tế bào với Cl, Na, K, tăng phân cực màng A sẽ dẫn đến xuất hiện cơn động kinh.

Chẩn đoán cũng như phân biệt các cơn co giật và động kinh.

Chẩn đoán cũng như phân biệt các cơn co giật và động kinh.

Chẩn đoán cũng như phân biệt các cơn co giật và động kinh.

Không phải hoàn toàn tất cả các bệnh nhân có cơn co giật đều được chẩn đoán là động kinh. Động kinh là hội chứng rối loạn có đặc điểm là từ 2  cơn co giật tự phát trở lên do tổn thương não. Vì thế có một cơn co giật kiểu động kinh thôi thì chưa thể quy kết rằng đấy là động kinh.

Cơn co giật kiểu động kinh cũng có thể là phản ứng, đó là các cơn co giật do cơ thể phản ứng lại các tác động như do kích thích hay triệu chứng cấp. Các cơn này xảy ra cùng lúc với rối loạn hệ thống hoặc có liên quan nhất thời với các cơn đột quỵ não. Các rối loạn hệ thống gây ra các cơn co giật phản ứng như hạ magie huyết, hạ đường huyết, hạ canxi huyết, hạ natri huyết, hoặc đôi khi tăng đường huyết không có thể xetonic và cai rượu. Các bệnh não nguyên phát gây ra các cơn co giật phản ứng bao gồm viêm màng não, chấn thương sọ não, viêm não, tai biến mạch máu não cấp. Các cơn co giật này thường chỉ được điều trị dứt điểm khi tìm được nguyên nhân và điều trị thấy hiệu quả.

Không phải tất cả các bệnh nhân có biểu hiện là sẽ ngất. Các vận động bất thường ở tay chân hoặc các cơn co giật toàn bộ đều là các cơn co giật động kinh. Tình trạng ngất khiến người xung quanh nhầm lẫn với cơn động kinh. Khái niệm ngất được định nghĩa là tình hình đột ngột khoog còn ý thức thoáng quá, tạm thời liên quan với mất trương lực tư thế thường là hồi phục tự phát. Mất ý thức và ngã xuống là những đặc điểm chính, các dấu hiệu kèm theo như cô giật, tăng trương lực, quay mắt, động tác tự động, cơn kích động ngôn ngữ và ảo giác thường khó nhận định ra co giật động kinh. Chẩn đoán phân biệt thường căn cứu vào cơ sở của các yếu tố đặc biệt thường không kèm theo các hiện tượng như trên. Có hai dấu hiệu như không phân biệt được dẫn tới lú lẫn và rối loạn hành động như cắn lưỡi. Đó là một dấu hiệu quan trọng để phân biệt cơn ngất với cơn động kinh. Trong khi đó chấn thương vùng sọ và rối loạn cơ tròn thì thường có  dẫn tới cơn ngất và cơn động kinh. Các xét nghiệm cần thiết đó là đo nồng độ prolactin sau cơn co giật, ghi điện não đồ hoặc nồng độ men creatinine kinase cũng đống vai trò trong chẩn đoán, nhưng rất khó để phân biệt.

Các bệnh lý khác cũng có thể gây nhầm lẫn với cơn co giật động kinh như biểu hiện cơn co giật của tâm thần. Chưa hết còn có rối loạn vận động, hạ huyết áp tư thế, loạn nhịp tim, cơn Migraine, thiếu máu não thoáng qua,  rối loạn giấc ngủ, mất thị lực toàn bộ thoáng qua và hội chứng tăng thông khí. Chẩn đoán đôi khi là khó khăn và cần thiết được ghi điện não nhiều lần và/ hoặc theo dõi bằng điện não video.

Xem thêm:

Bấm huyệt chữa bệnh động kinh

0/5 (0 Reviews)

You may also like...

Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments