Bệnh động kinh: Dấu hiệu nhận biết và cách điều trị

Bệnh động kinh là căn bệnh quái ác đang tàn phá khoảng 1 triệu người Việt Nam. Bệnh không hề khó chữa, tuy nhiên cần phải được chẩn đoán và điều trị đúng đắn  và song song là nâng cao nhận thức của người dân về bệnh.

Bệnh động kinh là gì?

Bệnh động kinh (có tên tiếng Anh Epileptic) là một bệnh lý mãn tính xảy ra do sự bất thường trong não bộ dẫn tới sự kích thích đồng thời một nhóm các tế bào thần kinh phóng điện ở vỏ não, gây ra sự mất kiểm soát do co giật đột ngột và không thể kiểm soát. Sự kích thích vỏ não ở các vùng khác nhau tạo ra những biểu hiện khác nhau. Co giật toàn thân và các chi không phải là biểu hiện một mình mà kèm thêm vắng ý thức đột ngột, co cứng chân tay chốc lát.

Nguyên nhân dẫn đến các cơn động kinh

 

Theo PGS.TS.BS Nguyễn Văn Liệu, động kinh hiện là căn bệnh phổ biến với nhiều nguyên nhân gây bệnh đa dạng có thể kể đến như:

  • Yếu tố di truyền: Theo các nhà nghiên cứu thì động kinh có mối liên quan với các gen (cụ thể NST 20). Tuy nhiên, những gen này chỉ là yếu tố khiến người bệnh nhạy cảm hơn khi bị tác động bởi môi trường khắc nghiệt như mưa gió buốt có thể gây ra những cơn co giật. Hay đúng hơn gen chỉ là một yếu tố tạo ra động kinh chứ không đóng vai trò chìa khóa quan trọng quyết định gây ra bệnh.
  • Chấn thương sọ não: Những tai nạn ảnh hưởng tới vùng sọ não sẽ làm chấn thương vùng não bộ gây ra các chấn thương chính là một trong những nguyên nhân gây bệnh.
  • Những bệnh gây tổn thương não: Bệnh hiểm nghèo như khối u trong não hoặc từng bị đột quỵ, thì cũng có khả năng kéo theo bệnh động kinh tạm thời. Các tổn thương não sẽ làm hệ thần kinh trung ương bị rối loạn và khiến hoạt động não có nhiều thay đổi và tăng nguy cơ bị động kinh.
  • Một số bệnh như viêm não, viêm màng não, hay các bất thường trong não không rõ nguyên nhân… cũng là tác nhân chính gây động kinh.
  • Chấn thương trước khi sinh: Trẻ sơ sinh lúc đó thì hệ miễn dịch còn non nớt và rất nhạy cảm với những tổn thương ở não. Nếu mẹ bị nhiễm trùng, thiếu dinh dưỡng, em bé sinh ra dễ tổn thương não… sẽ dẫn đến chứng động kinh ở trẻ sơ sinh.
  • Với trẻ nhỏ, ngay cả khi sốt cao, co giật kéo dài cũng dễ tiến triển thành bệnh động kinh
  • Bên cạnh đó, thói quen sử dụng các loại thuốc chống trầm cảm, những chất kích thích như rượu bia, thuốc lá và ma túy cũng là một trong những nguyên nhân có thể dẫn tới bệnh.

Đối tượng nào dễ mắc bệnh động kinh?

benh dong kinh

Bất cứ ai cũng có nguy cơ mắc bệnh, nhưng dưới đây là những đối tượng có nguy cơ cao:

  • Độ tuổi: Bệnh động kinh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến hơn ở người già và trẻ em. Cụ thể, bệnh xuất hiện ở trẻ dưới 10 tuổi chiếm khoảng 40%, động kinh xuất hiện dưới 20 tuổi chiếm khoảng 50% và có xu hướng tăng lên sau 60 tuổi.
  • Tiền sử gia đình có người mắc bệnh;
  • Những đối tượng có vấn đề về não như bị chấn thương não, tổn thương não và nhiễm trùng não như viêm não, viêm tủy sống…
  • Người bị đột quỵ và các bệnh về mạch máu;
  • Bệnh sa sút trí tuệ (Dementia) có thể là nguyên nhân dẫn tới bệnh ở người lớn tuổi.
  • Những em bé bị sốt giật đều phải được thăm khám vì khi sốt cao đến co giật mà không được điều trị kịp thời có thể làm tăng nguy cơ mắc động kinh cho trẻ khi đến tuổi trưởng thành.

Dấu hiệu nhận biết

Dấu hiệu để nhận biết bệnh động kinh rất đa dạng. Bệnh được chia làm 2 thể dạng chính là động kinh toàn thân và động kinh cục bộ. Cá biệt, ban đầu là động kinh cục bộ, nhưng nếu không phát hiện và điều trị kịp thời sẽ phát triển thành động kinh toàn thể. Ở mỗi dạng bệnh động kinh thì sẽ có biểu hiện ” chẳng giống ai”, khác nhau khi lên cơn, mỗi bệnh nhân lại có những biểu hiện cụ thể khác nhau khi lên cơn động kinh.

1. Động kinh cục bộ

Những cơn động kinh cục bộ xuất hiện khi một phần trong não có hoạt động bất thường. Bệnh chỉ biểu hiện ở một vài bộ phận trong cơ thể. Có thể chia bệnh thành 2 dạng là động kinh cục bộ phức tạp và đơn giản.

  • Dạng đơn giản: Bệnh nhân có thể bị co cứng hay co giật ở một phần của cơ thể, thị giác và khứu giác bất thường, tâm trạng lo lắng và sợ sệt điều gì đó mà không rõ nguyên nhân, cảm giác chóng mặt và khó chịu vùng dạ dày…
  • Dạng phức tạp: Khi các triệu chứng của bệnh tới thì đã số mất hết ý thức và không biết được cơn động kinh đang xảy ra. Họ nhìn với ánh mắt đờ đẫn hoặc chằm chằm giống kiểu ngây ngô lú lẫn. Người bệnh thực hiện những hành vi vô nghĩa như xoa tay lắc lắc đầu, xoay đầu vô nghĩa. Tỉnh lại sau cơn co giật họ không hề nhớ những gì đã xảy ra.

2. Động kinh toàn thể

Những cơn động kinh toàn thể xuất hiện khi hoạt động phóng điện bên trong vùng não quá mức gây ảnh hưởng đến toàn thể não bộ. Có 2 dạng phổ biến sau:

  • Cơn co cứng và co giật toàn thể: Đây là dạng phổ biến ở người lớn và hay gặp và thấy rõ nhất và dễ phân biệt vì người bệnh có thể mất ý thức. Trạng thái người bệnh bị dần mất thăng bằng và ngã xuống, có thể kèm theo tiếng kêu, la hét, nhưng không phải vì đau đớn. Lúc này, bệnh nhân cũng bắt đầu có những cơn co giật thật sự, họ không thể kiểm soát được tay chân do sự rung giật của các cơ. Cơn động kinh kéo dài trong vòng vài phút hoặc lâu hơn. Bệnh nhân sẽ bị tình trạng tiểu mất kiểm soát và sùi bọt mép.
  • Cơn vắng ý thức: Nhắc tới dạng này là nghĩ tới ngay trẻ em vì nó ít gặp ở người lớn. Biểu hiện đặc trưng nhất là mất ý thức trong khoảng 5 – 15 giây, nhìn chằm chằm, đôi khi đảo mắt lên trên, trẻ đang cầm đồ bỗng nhiên đánh rơi… Vì những triệu chứng này mà nhiều trẻ bị động kinh thường mất tập trung và khiến kết quả bị sa sút nghiêm trọng.
  • Hội chứng West hay còn gọi là co thắt sơ sinh: Là một dạng động kinh toàn thể thường gặp ở trẻ sơ sinh khoảng độ tuổi từ 3 – 8 tháng tuổi. Sau đó dừng lại và chuyển sang một dạng khác khi trẻ lên 4 tuổi. Nguyên nhân phổ biến là do những vấn đề về gen, ngạt khi sinh và rối loạn chuyển hóa, nhiễm trùng não dẫn đến bất thường trong cấu trúc và chức năng của não.

Dạng động kinh đặc biệt này khiến trẻ bị chậm phát triển cả về thể chất lẫn trí thông minh khiến học tập kém và tự kỷ. Một số biểu hiện bệnh như đầu trẻ gật mạnh và cơ thể uốn cong về phía trước một lúc lâu, các chi của trẻ co gập lên phía trước. Mỗi cơn động kinh dài khoảng 2s rồi sẽ dừng lại, sau đó lại tiếp tục thành các chuỗi cơn co thắt liên tục.

Các phương pháp chẩn đoán bệnh động kinh

benh dong kinh 01

Để chẩn đoán bệnh động kinh một cách chuyên nghiệp thì các bác sỹ sẽ khám lâm sang rồi sau đó sang các phương tiện hiện đại khác để tăng hiệu quả khám.

1. Khám lâm sàng

  • Khai thác về tiền sử bệnh, triệu chứng lâm sàng của người bệnh
  • Kiểm tra hành vi, kỹ năng vận động người bệnh để các định dạng động kinh mà người đó có thể mắc phải.
  • Xét nghiệm máu: Từ kết quả xét nghiệm máu, bác sĩ cũng có thể giúp người bệnh tình trạng của máu có nhiễm trùng không và di truyền một số rối loạn khác có liên quan đến động kinhcủa tình trạng nhiễm trùng, di truyền và một số rối loạn khác có thể liên quan đến bệnh động kinh.

2. Thực hiện các loại xét nghiệm để thấy rõ tổn thương trong não

Sau khi thăm khám lâm sàng, bác sĩ sẽ cho bệnh nhân thực hiện thêm những thủ tục sau để kết quả được chính xác nhất có thể:

  • Điện não đồ: phương pháp phổ biến nhất này được sử dụng trong quá trình chẩn đoán bệnh động kinh. Chuyên gia sẽ dùng thiết bị đo là các điện cực để ghi lại hoạt động điện trên não bộ. Nếu bệnh nhân bị mắc động kinh thì sóng não trở lên bất thường ngay cả khi họ chưa lên cơn co giật.
  • Chụp cắt lớp vi tính (CT) quét: Với cách này, bác sĩ sẽ quan sát được hình ảnh não được cắt ngang và phần bị tổn thương của não như khối u hay hiện tượng chảy máu não.
  • Chụp cộng hưởng từ (MRI): áp dụng sóng vô tuyến và nam châm để chuyên gia được nhìn chi tiết về bộ não và phát hiện ra những tổn thương hay bất thường trong não. Từ đó đưa ra các nguyên nhân gây ra những cơn động kinh một cách chính xác.

Bệnh động kinh nguy hiểm như thế nào?

Bệnh động kinh có thể chữa được nhưng nếu không điều trị, biến chứng của bệnh nguy hiểm tới tính mạng bệnh nhân.

  • Đối với trẻ sơ sinh: Trẻ có nguy cơ mắc các di thật bẩm sinh, xuất huyết não, ngạt chu sinh, nhiễm trùng hệ thần kinh, nhẹ thì giảm calci, giảm đường máu, rối loạn chuyển hóa.
  • Đối với những bệnh nhân trẻ nhỏ: Những di chứng tổn thương não mà khó lòng phục hồi theo thời gian.
  • Thanh thiếu niên, đặc biệt là động kinh thể vắng: Có nguy cơ đuối nước khi bơi lội, hoặc ngã khi leo trèo và kết quả học tập sa sút nghiêm trọng do giảm khả năng tập trung.
  • Đối với những người trưởng thành: Vô cùng nguy hiểm nếu bệnh nhân lên cơn co giật khi đang lái xe hoặc điều khiển những loại máy móc ở trên cao… Những tình huống như vậy có thể gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh.
  • Đặc biệt, đối với phụ nữ và người cao tuổi, đây là một căn bệnh đáng sợ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống, công việc hằng ngày và thậm chí là thiên chức làm mẹ.
  • Bệnh động kinh không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh mà còn gây áp lực tâm lý rất lớn cho người bệnh. Đối với nhiều bệnh nhân, chính thái độ tiêu cực của cộng đồng đã khiến cho họ luôn cảm thấy mặc cảm, tự ti và khó hòa nhập với cuộc sống.

Những quan niệm sai lầm về động kinh

Bệnh động kinh có xu hướng gia tăng nhưng nhận thức của cộng đồng về bệnh căn bệnh này vẫn còn nhiều hạn chế dẫn tới những nỗi sợ hãi không đáng có và những quan điểm sai lầm xung quanh căn bệnh này. Dưới đây là những quan điểm sai lầm về bệnh cần phải loại bỏ ngay lập tức.

1. Động kinh là do ma quỷ gây ra

“Bệnh động kinh khiến em luôn phải sống trong sợ hãi. Em sợ bị bạn bè cười chê em là đồ ma ám. Em cũng muốn chơi đùa vui vẻ với các bạn, cũng muốn mỗi ngày đến trường là một ngày vui; nhưng em lo khi lên cơn, em sẽ không thể giấu bệnh được nữa và nếu thế thì sẽ chẳng còn ai muốn chơi với em. Mẹ em cũng nói mẹ lo sau này không ai dám lấy em nên cấm tiệt em không được nói về bệnh tình của em với người lạ”, N.H.H 17 tuổi (TP. Hưng Yên) chia sẻ.

Trường hợp của em N.H.H chỉ là một trong số rất nhiều bệnh nhân đang phải đối mặt với sự kỳ thị của cộng đồng. Nhiều người cho rằng, bệnh do một thế lực thần thánh hoặc ma quỷ nào đó gây ra. Nhưng đó là quan điểm sai lầm và cần phải gạt bỏ ngay lập tức.

Em N.H.H được PGS.TS.BSCKII Nguyễn Văn Liệu – Chuyên gia đầu ngành về Thần kinh, Cố vấn chuyên môn, bác sĩ khoa Khám bệnh Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Hà Nội trực tiếp điều trị. Hiện tại N.H.H đã được khỏi bệnh, em học tập tốt và đã có thể hòa nhập với các bạn trong lớp.

2. Phụ nữ mắc bệnh không thể hoặc không nên mang thai

Phụ nữ mắc bệnh thường phải chịu tiếng ác là không thể sinh con hoặc nếu sinh được thì có thể di truyền bệnh cho con. Bởi vậy, một khi bệnh bị tiết lộ ra ngoài, mặc dù họ có hoàn hảo đến mấy thì cũng rất khó có cơ hội lập gia đình. Đây là quan niệm sai lầm và cần phải loại bỏ, thậm chí trên thế giới từng có những phong trào bảo vệ quyền có con của phụ nữ bị động kinh.

Chính sự kỳ thị quá mức và quan điểm sai lầm của cộng đồng đã khiến cho những người phụ nữ này phải chịu quá nhiều sức ép tâm lý và đau đớn hơn là bị tước mất quyền làm mẹ thiêng liêng. Thực tế là, nếu đã được điều trị cắt cơn, bệnh nhân vẫn có thể mang thai bình thường. Bác sĩ sẽ lựa chọn những loại thuốc phù hợp để giảm nguy cơ dị tật thai nhi.

3. Người mắc bệnh luôn bị co giật

Các loại động kinh khác nhau sẽ có biểu hiện khác nhau. Vì thế, có thể khẳng định, triệu chứng bệnh động kinh rất đa dạng. Ngoài những cơn co giật, sùi bọt mép hay mắt trợn ngược, người mắc bệnh có thể gặp phải nhiều dấu hiệu khác như cảm giác sợ hãi, mặt đờ đẫn,…

4. Bệnh không thể chữa khỏi

Quan điểm này hoàn toàn sai lầm. Bệnh động kinh là bệnh cần chữa và hoàn toàn có thể chữa khỏi. Thực tế, rất nhiều bệnh nhân đã được điều trị khỏi bệnh và trở lại cuộc sống bình thường. Một số phương pháp điều trị phổ biến là phẫu thuật hoặc thuốc kháng động kinh. Bên cạnh đó, tùy vào dạng bệnh và thể trạng của bệnh nhân, bác sĩ sẽ đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.

5. Động kinh là một dạng bệnh tâm thần

Phần lớn, trường hợp mắc bệnh phải chịu tiếng oan là người bệnh tâm thần. Sự thật là, động kinh không phải là một bệnh tâm thần. Ngoại trừ những lúc lên cơn, bệnh nhân vẫn tỉnh táo và có thể sinh hoạt bình thường.

6. Sơ cứu bằng cách nhét gì đó vào miệng bệnh nhân

benh dong kinh 02

Khi phát hiện bệnh nhân lên cơn co giật, nhiều người nghĩ rằng, nhét vật gì đó vào miệng sẽ tránh để người bệnh không cắn lưỡi của họ, nhưng hành động đó lại có thể khiến bệnh nhân dễ bị ngạt thở và dẫn tới tử vong. Bạn chỉ nên nghiêng đầu người bệnh sang một bên, giúp họ nới lỏng quần áo và giữ người bệnh ở một tư thế thoải mái nhất. Cần phải liên tục để ý tới người bệnh trong cơn co giật.

Xem thêm:

Cơ chế bệnh động kinh

0/5 (0 Reviews)

You may also like...

Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments